Có quan điểm cho rằng: nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự là thuộc về đương sự, kể cả Tòa án và Viện kiểm sát. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì nhận định này đúng hay sai? Còn đối với vụ án hình sự trách nhiệm chứng minh lại thuộc về ai? Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, mời bạn đọc tìm hiểu bài viết dưới đây:

Ảnh minh họa

1. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự

Nghĩa vụ chứng minh của đương sự có ý nghĩa rất lớn trong vụ án dân sự, khi khởi kiện một ai đó hoặc có yêu cầu phản tố đối với người khởi kiện, yêu cầu độc lập trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án và để bảo vệ cho yêu cầu của mình là có căn cứ thì đương sự đó phải chứng minh. Trường hợp đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình thì phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó. Bởi vì căn cứ theo các quy định như sau:

– Điều 6 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự thì:


Điều 6. Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
“1. Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự.
2. Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”.
Điều 6 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Tweet

Khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về quyền, nghĩa vụ của đương sự: 5. Cung cấp tài liệu, chứng cứ; chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

– Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh:


Điều 70. Nghĩa vụ chứng minh
“1. Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người tiêu dùng khởi kiện không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bị kiện có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
b) Đương sự là người lao động trong vụ án lao động mà không cung cấp, giao nộp được cho Tòa án tài liệu, chứng cứ vì lý do tài liệu, chứng cứ đó đang do người sử dụng lao động quản lý, lưu giữ thì người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án.
Người lao động khởi kiện vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trường hợp không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về người sử dụng lao động;
c) Các trường hợp pháp luật có quy định khác về nghĩa vụ chứng minh.
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Khoản 5 Điều 70 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Tweet

Mặt khác chưa có quy định pháp luật nào thể hiện Tòa án, Viện kiểm sát có nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự.

Do vậy, trong vụ án dân sự nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, còn đối với Tòa án và Viện kiểm sát thì họ không có nghĩa vụ chứng minh. Bởi vì, Tòa án chỉ có chức năng hỗ trợ cho đương sự thu thập chứng cứ khi đương sự có yêu cầu hoặc xét thấy cần thiết và việc thu thập chứng cứ của Tòa án với mục đích là làm rõ vụ án để có hướng xét xử chính xác, khách quan, công bằng. Riêng đối với Viện kiểm sát họ chỉ thực hiện việc chứng minh cho yêu cầu kháng nghị của mình là có căn cứ, hợp pháp.

2. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án hình sự

Theo  Điều 15 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định về xác định sự thật của vụ án đã quy định:


Điều 15. Xác định sự thật của vụ án
“Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội”.
Điều 15 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021)
Tweet

Như vậy, khác với vụ án dân sự ai có yêu cầu Tòa án giải quyết đối với vụ việc của mình thì phải chứng minh cho yêu cầu đó là có cơ sở và hợp pháp. Theo quy định trên đối với vụ án hình sự thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh, họ cũng có quyền chứng minh nhưng không buộc chứng minh là mình vô tội.

Cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh ở đây, bao gồm: Cơ quan điều tra, truy tố và xét xử. Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn tố tụng nghĩa vụ chứng minh thuộc về mỗi cơ quan khác nhau. Cụ thể là:

Giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố vụ án hình sự: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có nghĩa vụ chứng minh tội phạm.

Giai đoạn xét xử vụ án hình sự: Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và Hội đồng xét xử có nghĩa vụ chứng minh tội phạm.

Ngoài ra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được quy định tại khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) cũng là cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh, gồm:

– Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;

– Các cơ quan của Hải quan;

– Các cơ quan của Kiểm lâm;

– Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;

– Các cơ quan của Kiểm ngư;

– Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

– Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

TÚ QUYÊN – CÔNG TY LUẬT DU VÀ CỘNG SỰ

Trên đây là thông tin về chủ thể nào có nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự, vụ án hình sự?DU & PARTNERS LAW FIRM  cung cấp tới quý bạn đọc. Nếu còn bất kỳ thắc mắc nào cần hỗ trợ về vấn đề trên vui lòng liên hệ DU & PARTNERS LAW FIRM của chúng tôi. DU & PARTNERS LAW FIRM luôn cam kết sẽ đưa ra những hỗ trợ tư vấn về pháp lý nhanh chóng và có hiệu quả nhất. Xin chân thành cám ơn quý bạn đọc.

THÔNG TIN LIÊN HỆ
CÔNG TY LUẬT TNHH DU VÀ CỘNG SỰ (DU & PARTNERS LAW FIRM)
Địa chỉ: số 132,đường Nguyễn Đệ, P. An Thới, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ.
Email: duandpartners@gmail.com.
Website: https://duandpartners.com/
Hotline: 02923 767 768

* Đánh giá bài viết