Thưa Luật sư tôi có câu hỏi sau đây: Cha tôi có vợ là mẹ tôi và ba người con đều đã thành niên. Năm 2015, sau khi ông bà nội chết cha tôi có nhận thừa kế một căn nhà và đất có diện tích 200m2 và đã được sang tên cho cha tôi. Đến năm 2019, cha tôi có lập di chúc để lại miếng đất nói trên cho đều 03 anh em chúng tôi mỗi người một phần mà mẹ tôi không hề hay biết? Đến năm 2023 cha tôi chết. Do lo sợ 02 người anh trai của tôi sau khi nhận thừa kế từ cha tôi sẽ dùng tài sản này đem bán? Nhờ Luật sư vấn cho tôi biết mẹ tôi có quyền được hưởng phần di sản thừa kế nào từ cha tôi chết để lại hay không?

Cám ơn câu hỏi của bạn! Du & Partners law firm xin giải đáp thắc mắc cho bạn như sau: Trước hết, bạn cần tìm hiểu về khái niệm di chúc là gì? Hiệu lực của di chúc? Xem xét tính hợp pháp của di chúc?

(Ảnh minh họa)

1. Di chúc là gì?

Căn cứ vào Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.

Như vậy, di chúc là do cá nhân lập mà không phải là cơ quan hoặc tổ chức, được thể hiện bằng chính ý chí của cá nhân đó với mục đích chuyển dịch tài sản của người lập di chúc cho một người nào đó. Người thừa kế theo di chúc có thể là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người lập di chúc nhưng cũng có khi người được hưởng di sản theo di chúc không có những mối quan hệ này với người lập di chúc.

2. Hiệu lực của di chúc

Quy định về hiệu lực của di chúc tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015:

1. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.

2. Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:

a) Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;

b) Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.

3. Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.

4. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực.

5. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc của cha bạn đã có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Xem xét tính hợp pháp của di chúc

Để biết được di chúc có hợp pháp hay không thì cần căn cứ vào Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xác định:

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Khi xem xét các điều kiện nêu trên nếu di chúc của cha bạn không rơi vào các trường hợp đó thì chứng minh di chúc của cha bạn có hiệu lực.

4. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc được quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc:

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này”.

Theo đó, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là những người thừa kế không được người lập di chúc cho hưởng hoặc cho hưởng di sản mình để lại nhưng ít hơn hai phần ba suất của người thừa kế theo pháp luật. Những người này có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với người lập di chúc. Người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc mà phụ thuộc vào quy định của pháp luật. Tuy vậy, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc vẫn có quyền được hưởng di sản như người thừa kế được chỉ định trong di chúc.

Ngoài ra, người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật theo khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 nếu họ từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản trong các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật Dân sự năm 2015 như:

– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

– Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

– Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Trả lời câu hỏi:
Do cha bạn đã lập di chúc chia cho 03 anh em bạn mỗi người một phần di sản nên phải chia thừa kế theo di chúc. Mặc dù, cha bạn đã lập di chúc cho 03 người con nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc thì mẹ bạn vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật đối với di sản là một căn nhà và đất có diện tích 200m2.

Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của DU & PARTNERS LAW FIRM. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng liên hệ với chúng tôi ngay.

THÔNG TIN LIÊN HỆ
CÔNG TY LUẬT TNHH DU VÀ CỘNG SỰ (DU & PARTNERS LAW FIRM)
Địa chỉ: số 132, đường Nguyễn Đệ, P. An Thới, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ.
Email: duandpartners@gmail.com.
Website: https://duandpartners.com/
Hotline: 02923 767 768

* Đánh giá của khách hàng