Thuế là một khoản tài chính bắt buộc phải trả cho một tổ chức chính phủ để tài trợ cho các khoản chi tiêu công khác nhau. Việc không trả tiền, cùng với việc trốn tránh hoặc chống lại việc nộp thuế, sẽ bị pháp luật chế tài. Thuế bao gồm thuế trực tiếp hoặc gián tiếp và có thể được trả bằng tiền hoặc tương đương với giá trị lao động của nó. Lần đánh thuế đầu tiên được biết đến diễn ra ở Ai Cập cổ đại vào khoảng năm 3000-2900 TCN.

Hầu hết các quốc gia đều có một hệ thống thuế để trả cho các nhu cầu quốc gia, chung hoặc thỏa thuận và các chức năng của chính phủ. Một số đánh thuế tỷ lệ phần trăm cố định đối với thu nhập hàng năm của cá nhân, nhưng hầu hết các loại thuế dựa trên số tiền thu nhập hàng năm. Hầu hết các quốc gia đều đánh thuế thu nhập cá nhân cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp. Các quốc gia hoặc tiểu đơn vị cũng thường áp thuế tài sản, thuế thừa kế, thuế bất động sản, thuế quà tặng, thuế bán hàng, thuế lương hoặc thuế quan. Theo nghĩa về kinh tế, thuế chuyển sự giàu có từ các hộ gia đình hoặc doanh nghiệp cho chính phủ. Điều này có tác dụng vừa có thể làm tăng và giảm tăng trưởng kinh tế và phúc lợi kinh tế. Do đó, thuế là một chủ đề gây tranh luận cao.

1. So sánh phương pháp tính thuế VAT khấu trừ và trực tiếp

Thuế VAT (Value Added Tax) (hay còn gọi là thuế giá trị gia tăng) là một loại thuế tiêu thụ được áp dụng trên giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Nó là một trong những loại thuế quan trọng và phổ biến nhất trên thế giới, và đóng vai trò quan trọng trong việc cân bằng ngân sách nhà nước và hỗ trợ phát triển đất nước. Tại Việt Nam, có hai phương pháp tính thuế giá trị gia tăng đó là: phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng. Vậy hai phương pháp này là như thế nào? Chúng nó điểm nào khác nhau? Hãy cùng Luật Việt An tìm hiểu trong toàn bộ bài viết sau.

Cơ sở pháp lý:

  • Luật thuế giá trị gia tăng 2008 Luật Thuế GTGT 2008 
  • Thông tư số 219/2013/TT-BTC hướng dẫn về Luật Thuế giá trị gia tăng
  • Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa các Thông tư để cải cách, đơn giản các TTHC về thuế
2. Thuế VAT là gì?

Thuế giá trị gia tăng (VAT) là một loại thuế gián thu được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ từ quá trình sản xuất đến tiêu dùng, và số tiền này được nộp vào ngân sách nhà nước dựa trên mức độ tiêu thụ của hàng hoá và dịch vụ.

VAT xuất phát từ nước Pháp và đã được áp dụng rộng rãi tại hơn 130 quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, Luật thuế giá trị gia tăng đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1999.

Điểm đặc biệt của VAT là nó được tính vào mỗi giai đoạn trong quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm hàng hoá. Nó được tính trên giá trị gia tăng tại mỗi giai đoạn, và số tiền thuế đã nộp ở giai đoạn trước được khấu trừ để tránh việc tính thuế nhiều lần trên cùng một giá trị gia tăng.

Khi mua hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ, người tiêu dùng sẽ chịu trách nhiệm nộp VAT. Điều này đồng nghĩa với việc VAT sẽ được tính vào giá bán hàng hoá và dịch vụ, và số tiền này sẽ được đưa vào ngân sách nhà nước thông qua cơ chế nộp thuế.

3. Phương pháp tính thuế

3.1 Phương pháp khấu trừ thuế

Khấu trừ thuế GTGT (thuế giá trị gia tăng) là phương pháp tính số tiền thuế cần nộp vào ngân sách Nhà nước trong doanh nghiệp. Để xác định số thuế GTGT thực tế, doanh nghiệp lấy số thuế GTGT đầu ra (tính trên giá trị hàng hoá, dịch vụ bán ra) trừ đi số thuế GTGT đầu vào (tính trên giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào).

Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp mua hàng hóa và dịch vụ từ các nhà cung cấp khác và trả mức thuế GTGT đầu vào cho các loại hàng hóa, dịch vụ này. Khi bán hàng hóa, sản phẩm cho khách hàng, doanh nghiệp thu mức thuế GTGT từ khách hàng dựa trên giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, gọi là thuế GTGT đầu ra. Sau đó, doanh nghiệp sẽ tính số tiền thuế GTGT thực tế cần nộp bằng cách trừ số thuế GTGT đầu vào từ số thuế GTGT đầu ra.

3.2 Phương pháp tính thuế trực tiếp

Tính thuế trực tiếp (VAT trực tiếp) là một phương pháp tính thuế GTGT (VAT) dựa trên tỷ lệ trên doanh thu của doanh nghiệp trong từng ngành nghề kinh doanh cụ thể. Theo phương pháp này, doanh nghiệp chỉ cần tính số tiền thuế GTGT cần nộp dựa trên tổng doanh thu hàng bán hoặc dịch vụ cung cấp của họ, không cần quan tâm đến mức thuế GTGT đầu vào.

4. So sánh phương pháp tính thuế VAT khấu trừ và trực tiếp
4.1 Điểm giống nhau
  • Cả phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng đều là các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng được thu qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Cả hai phương pháp này đều sử dụng khi kê khai tạm tính và quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp. Điểm giống nhau khác là cả hai đều sử dụng chung hệ thống mẫu biểu chứng từ, sổ sách và báo cáo tài chính.
  • Cả hai phương pháp này có thể áp dụng đối với doanh nghiệp hoặc hợp tác xã có tổng doanh thu hàng năm dưới một tỷ đồng và thực hiện đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ. Trong trường hợp này, nếu doanh nghiệp hoặc hợp tác xã tự nguyện đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, thì phương pháp khấu trừ thuế sẽ được áp dụng. Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoặc hợp tác xã không tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế, thì mặc nhiên phương pháp tính thuế GTGT đối với doanh nghiệp hoặc hợp tác xã sẽ là phương pháp tính trực tiếp trên phần GTGT.
4.2 Điểm khác nhau
Tiêu chíPhương pháp khấu trừPhương pháp trực tiếp
Căn cứ pháp lýĐiều 10 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 sửa đổi bổ sung năm 2016 Điều 12 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế Giá trị gia tăng Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa các Thông tư để cải cách, đơn giản các TTHC về thuếĐiều 11 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 sửa đổi bổ sung năm 2016 Điều 13 Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế Giá trị gia tăng Thông tư 119/2014/TT-BTC sửa các Thông tư để cải cách, đơn giản các TTHC về thuế
Đối tượng áp dụngCơ sở kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ việc bán hàng hoà, cung ứng dịch vụ từ một tỷ đồng trở lên Cơ sở kinh doanh đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế Tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu, khí nộp thuế theo phương pháp khấu trừ do bên Việt Nam kê khai khấu trừ nộp thayCác doanh nghiệp, hợp tác xã đang hoạt động có doanh thu hàng năm dưới mức ngưỡng doanh thu một tỷ đồng Các doanh nghiệp, hợp tác xã mới thành lập Hộ, cá nhân kinh doanh; tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật (trừ các tổ chức, cá nhân nước ngoài cung cấp hàng hóa, dịch vụ để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển và khai thác dầu khí.) Tổ chức kinh tế khác không phải là doanh nghiệp, hợp tác xã
Hoá đơnHóa đơn giá trị gia tăngHóa đơn bán hàng
Cách tính thuếSố tiền thuế GTGT phải nộp =  Số thuế GTGT đầu ra   –   Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ. Số thuế GTGT đầu ra = Tổng số thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán hàng ghi trên hóa đơn GTGT. Số thuế GTGT đầu vào được khấu trừ = Tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ, chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu.Trường hợp 1: Áp dụng đối với hoạt động mua bán, chế tác vàng, bạc, đá quý. Số thuế GTGT phải nộp = (GTGT của vàng, bạc, đá quý) x (Thuế suất). Trường hợp 2: Áp dụng đối với cá nhân, hộ kinh doanh; doanh nghiệp, hợp tác xã có mức doanh thu dưới 1 tỉ đồng; cá nhân, tổ chức nước ngoài kinh doanh nhưng không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Số thuế GTGT = Doanh thu   x Tỷ lệ tính thuế(%)
Thuế suấtCó 05 loại thuế suất áp dụng với từng nhóm hàng hóa, dịch vụ, cụ thể: Không tính thuế; Thuế suất đặc thù; Thuế suất 0%; Thuế suất 5%; Thuế suất 10% (áp dụng đối với tất cả hàng hóa, dịch vụ không nằm trong 4 nhóm trên).Tỷ lệ % để tính thuế GTGT được quy định theo từng hoạt động cụ thể: Phân phối, cung cấp hàng hóa: 1%; Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%; Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%; Hoạt động kinh doanh khác: 2%
Ưu điểmĐược hỗ trợ khấu trừ với thuế GTGT đầu vào Giúp các doanh nghiệp có dự án đầu tư hay hoạt động nhập khẩu được hoàn thuế. Giúp cân đối thuế GTGT cần đóng thông qua việc đề xuất dùng hay mua hàng dự trữ.Không cần phải thực hiện các chế độ kế toán đầy đủ theo quy định vì không khấu trừ thuế GTGT đầu ra. Tỷ lệ thu thuế GTGT thấp, chỉ từ 1%-5% tùy theo từng ngành nghề.

Nội dung nêu trên là bài viết “Tư vấn pháp luật thuế giá trị gia tăng” của chúng tôi dành cho khách hàng của DU & PARTNERS LAW FIRM. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng liên hệ với chúng tôi ngay.

THÔNG TIN LIÊN HỆ
CÔNG TY LUẬT TNHH DU VÀ CỘNG SỰ (DU & PARTNERS LAW FIRM)
Địa chỉ: số 132, đường Nguyễn Đệ, P. An Thới, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ.
Email: duandpartners@gmail.com.
Website: https://duandpartners.com/
Hotline: 02923 767 768

* Đánh giá bài viết